Sau một năm vận hành, TP.HCM mới đã chứng kiến hàng loạt chuyển động mạnh mẽ về thể chế, hạ tầng, bộ máy quản trị và các định hướng phát triển dài hạn. Phía trước vẫn còn nhiều thách thức để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một siêu đô thị có năng lực cạnh tranh toàn cầu trong 50 năm tới.
Tuổi Trẻ Online đã có cuộc trao đổi với TS Trương Minh Huy Vũ - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam - để nhìn lại một năm nỗ lực của TP.HCM mới, đồng thời phác họa những nền tảng cốt lõi mà thành phố cần xây dựng cho nửa thế kỷ tiếp theo.


* Thưa ông, sau một năm nhìn lại, đâu là giá trị lớn nhất mà cuộc sáp nhập TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu mang lại?
- Khi ba địa phương sáp nhập hình thành siêu đô thị TP.HCM mới, nhiều người nhìn thấy ngay quy mô lớn hơn, dân số đông hơn, nguồn lực nhiều hơn. Nhưng ở góc nhìn của những người làm chiến lược phát triển đô thị, điều đáng chú ý hơn nằm ở những nền tảng được tích lũy từ hàng chục năm trước.
Nói cách khác, những tuyến đường giao thông trọng điểm đang mở, những dự án đô thị, những khu công nghiệp đã hình thành, những đề án kinh tế biển, những mô hình đô thị thông minh, những bản thiết kế thể chế đột phá, ý tưởng về trung tâm tài chính quốc tế hay thành phố khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo..., tất cả đều không xuất hiện trong một sớm một chiều.
Bất kỳ thành tựu nào hôm nay cũng đều được chuẩn bị từ nhiều năm trước, thậm chí nhiều thập niên trước. Mọi việc bắt đầu hôm nay đều có một khoảng chuẩn bị từ quá khứ, từ một hoặc nhiều nhiệm kỳ. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là những người đi trước đã nghiên cứu, đã thử nghiệm, đã tích lũy kinh nghiệm và để lại cho chúng ta một kho tài sản phát triển rất lớn. Đó là thứ quý giá.
Nếu nói về điểm cộng, TP.HCM có tiềm lực kinh tế, con người, thị trường và lịch sử đổi mới sáng tạo không phải bàn cãi. Nhưng Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũng không kém cạnh đang cùng bổ trợ, bù khuyết cho nhau khi "về chung một nhà".

* Ông có thể phân tích sâu hơn về nhìn nhận này?
Lấy ví dụ về Bình Dương, GRDP bình quân đầu người đạt chuẩn rất cao trước khi sáp nhập. Các mô hình phát triển cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị xoay quanh VSIP và Becamex trở thành hình mẫu cho cả nước. Ở Bình Dương, có những "phường siêu công nghiệp" mà mô hình chính quyền ở đó phải là quản lý công nghiệp hóa hiện đại.
Di sản của Bà Rịa - Vũng Tàu khi sáp nhập không chỉ là dầu khí. Các thế hệ trước đã trăn trở, thai nghén những đề án nền tảng về kinh tế biển, về khu thương mại tự do Cái Mép Hạ, hay đề án Côn Đảo. Tỉnh cũng đã hình thành được những cụm du lịch tỉ đô như Hồ Tràm - Phước Hải, nơi đang thí điểm những mô hình vui chơi giải trí tầm cỡ quốc tế.
Ở địa phương này, chúng ta còn thấy bóng dáng của mô hình "chính quyền cảng" (Port City) tương tự như các nước, một khái niệm đã được nghiên cứu, tích lũy và trăn trở từ lâu. Tất cả những lợi điểm này thành phố mới nhận lại bàn giao với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cũng là sự tích lũy, trăn trở của các bậc tiền bối, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp trong một thời gian rất dài.
Khi gom lại để bàn về sự phát triển, TP.HCM mới đang đứng trên vai người khổng lồ. Việc của chúng ta hôm nay là tích hợp các nguồn lực đó lại trong một không gian lớn hơn và tạo ra giá trị cộng hưởng. Đó là lý do tôi cho rằng TP.HCM sau sáp nhập không chỉ là phép cộng diện tích hay dân số, mà là sự cộng hưởng giữa ba "hệ sinh thái" phát triển mạnh mẽ, đầy nguồn lực.


* Bên cạnh những "điểm cộng", ông có nhắc đến "điểm trừ". Theo ông, những điểm trừ lớn nhất là gì?
- Trong quá trình phát triển, việc "đi trước" thường dẫn đến vướng luật hoặc có một số méo mó từ quá trình thực thi. Tổng dự án tồn đọng của cả ba địa phương hiện nay rất lớn. Đáng nói, ba địa phương trước sáp nhập đều bị nút thắt hạ tầng, quá tải nghiêm trọng.
Nhiều năm trước TP.HCM đã thiếu metro, thiếu cao tốc và hầu hết đường vành đai vẫn chỉ nằm trên quy hoạch, bất chấp những nỗ lực qua nhiều nhiệm kỳ.

Một điểm nữa là giá đất, một thực tế mà Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được từng phát biểu rất rõ ràng: giá đất quá cao là "bất lợi" và là "trở lực cho phát triển" của thành phố.
Xây dựng một khu công nghiệp mới trở nên không còn khả thi về mặt kinh tế, song song đó việc thành phố đi trước khi đã giao cho nhà đầu tư cách mấy chục năm về trước, giờ thời hạn vẫn còn tiếp tục. Các khu chế xuất, khu công nghiệp như Tân Thuận, Tân Bình, Bình Chiểu…, các cụm công nghiệp hiện nay nằm lọt thỏm trong lõi đô thị.
Hệ quả là gì? Giáo sư Nguyễn Trọng Hoài (Đại học Kinh tế TP.HCM) dùng một thuật ngữ rất hay "TP.HCM đã giải công nghiệp hóa sớm". Thành phố khẳng định chuyển mình sang dịch vụ, nhưng bản chất vì chúng ta không tạo được quỹ đất cho các khu công nghiệp mới. Hệ quả là các nguồn lực sản xuất chạy sang các tỉnh thành, địa phương khác.
Giá đất cao còn làm tê liệt các dự án chỉnh trang đô thị. Tại sao dự án di dời nhà ven kênh rạch trước đây bế tắc? Vì không thể có phương án tái định cư tại chỗ phù hợp với bài toán kinh tế. Khi giá đất bị đẩy lên quá cao, tiền đền bù dù nghe có vẻ lớn nhưng người dân không thể mua nổi một căn chung cư hay một miếng đất ở khu vực xung quanh. Sự trì hoãn của toàn bộ các dự án công nghiệp và đô thị đều từ logic giá đất mà ra.

* Vậy nếu nhìn lại một năm qua, ông đánh giá thế nào về những nỗ lực của TP.HCM mới để giải quyết những điểm trừ đó?
- Tôi nghĩ phải nhìn bằng nhiều lớp thời gian khác nhau. Có những việc thành phố nói và đã làm được. Ví dụ như xử lý các khu đất dự án tồn đọng để làm công viên, không gian công cộng; thúc đẩy các dự án giao thông lớn; tái khởi động những dự án kéo dài nhiều năm; triển khai các công trình giao thông trọng điểm... Đó là những việc đã có sản phẩm cụ thể.

Có những việc thành phố đang làm và kết quả diễn ra theo tiến độ. Ví dụ chuẩn bị xây dựng các tuyến metro mới, các chương trình đầu tư quy mô lớn ở các ngành đòi hỏi chế biến sâu, logistics - cảng biển hay có hàm lượng công nghệ, trọng tâm quy hoạch giảm cao tầng ở khu trung tâm, tinh gọn bộ máy. Những việc này đang làm cần thêm thời gian để đo lường.
Và cũng có những việc đã được định hướng nhưng kết quả cuối cùng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan. Chẳng hạn như chống ngập, giảm kẹt xe, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế hay khoa học công nghệ.
Đó đều là những câu chuyện trung hạn, chứ không phải một hay hai năm. Chẳng hạn Trung tâm Tài chính quốc tế là cuộc chơi ít nhất mười năm, hai mươi năm.
Giai đoạn đầu tiên luôn là giai đoạn hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng, thu hút nhân lực. Đến khi đủ điều kiện, nó mới phát triển theo cấp số nhân. Nếu dùng tư duy từng năm để đánh giá những chiến lược dài hạn như vậy thì rất khó.
Một năm qua có sản phẩm, có hạn chế, nhưng quan trọng hơn là những chuyển động nền tảng đã bắt đầu.


* TP.HCM đã có một nền tảng vững vàng từ nền hòa bình hơn 50 năm trước để có được ngày hôm nay. Nếu chọn những nền móng quan trọng nhất cho TP.HCM 50 năm tới, theo ông sẽ bắt đầu từ đâu?
- Có ba câu chuyện lớn.
Đầu tiên là hạ tầng. Ngày trước chúng ta nói về cầu đường, bến bãi, sau đó là hạ tầng công nghiệp, hạ tầng xã hội, hạ tầng dịch vụ. Còn bây giờ là câu chuyện hạ tầng công nghệ. Và tất cả đều phải đồng bộ, liên thông. Hạ tầng sẽ không bao giờ là đủ.
Thành phố đã thảo luận nhiều năm về vành đai 2, vành đai 3, vành đai 4, các tuyến cao tốc, metro... nhưng giờ đây cuộc thảo luận về hạ tầng đã mở rộng hơn rất nhiều.
Đó là hạ tầng năng lượng, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số, hạ tầng khoa học công nghệ. Đó còn là những hình thức hạ tầng mang tính chuyên đề gắn với phát triển đô thị như không gian ngầm, không gian tầm thấp - tầm cao, không gian biển. TP.HCM là nơi gần như mọi loại hạ tầng hiện đại trên thế giới đều có nhu cầu xuất hiện. Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức rất lớn.

* Vậy theo ông, điều cần thay đổi để phát triển hạ tầng nhanh như mong muốn là gì?
- Vấn đề không chỉ là tiền, mà nằm ở phương thức huy động nguồn lực. Nhu cầu hạ tầng hiện nay rất đa dạng, rất lớn và đòi hỏi nhiều mô hình về đầu tư, khai thác, vận hành mới.
Ví dụ một công viên được doanh nghiệp đầu tư rồi bàn giao cho Nhà nước, sau đó ai vận hành? Liệu có thể giao lại cho doanh nghiệp quản lý theo cơ chế phù hợp không? Mục tiêu cuối cùng là gì? Là công viên sạch đẹp, phục vụ cộng đồng và giảm gánh nặng ngân sách?
Tôi cho rằng phương thức nằm ở tư duy hợp tác công tư (PPP) mang tính mở rộng và đa chiều. Không chỉ trong giao thông, mà cần PPP trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thành phố cần có thêm quyền điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh công năng, điều chỉnh mật độ phát triển để tạo ra những cơ chế trao đổi nguồn lực một cách linh hoạt. Đó là kinh nghiệm thành công (và cả bài học kinh nghiệm) của nhiều đô thị lớn trên thế giới.


* Bên cạnh hạ tầng, ông nhiều lần nhấn mạnh đến vai trò của thể chế?
- Đúng vậy. Hạ tầng muốn phát triển thì thể chế phải tiên phong. TP.HCM đã có nhiều cơ chế đặc thù trong quá khứ, từ Nghị quyết 54 đến Nghị quyết 98, Nghị quyết 188, Nghị quyết 222 và gần nhất là Nghị quyết 260. Nhưng tương lai đòi hỏi một bước xa hơn thế.
Điều quan trọng nhất là tăng quyền chủ động cho thành phố. Thực tiễn luôn thay đổi rất nhanh, nếu mỗi vấn đề đều phải chờ sửa luật ở cấp cao hơn sẽ rất khó. TP.HCM cần có không gian thể chế để thử nghiệm, để chọn những mô hình hiệu quả hơn và điều chỉnh kịp thời theo thực tiễn.
Tôi đặc biệt quan tâm đến việc xã hội hóa dịch vụ công. Không phải mọi việc đều phải do cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện.
Nhiều dịch vụ nghiên cứu, tham mưu, xúc tiến đầu tư, tư vấn chính sách... hoàn toàn có thể huy động khu vực tư nhân, các trường đại học, viện nghiên cứu, các công ty luật, tư vấn chuyên nghiệp cùng tham gia. Điều quan trọng là phải có cơ chế chính danh và minh bạch để làm các nhiệm vụ đó.

* Sau tất cả, hạ tầng và thể chế vẫn cần con người vận hành. Theo ông, đội ngũ cán bộ trong giai đoạn này cần có những gì?
- Sáng tạo lớn nhất của TP.HCM chính là nằm ở con người: Chọn đúng người, cho thử nghiệm, không bảo thủ và dám thay đổi nhanh. Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang đã nhấn mạnh nguyên tắc "không bảo thủ".
Nguyên tắc này có nghĩa chọn một người vào vị trí lãnh đạo, nếu qua thời gian nhất định, tùy theo lĩnh vực, không làm được thì "làm lại", sẵn sàng thay đổi. Đổi người không phải là chọn sai, là thất bại, đơn giản là vì chưa phù hợp cho cuộc kiến tạo - vận hành tại những thời điểm nhất định.

Chúng ta cũng cần cơ chế kiêm nhiệm theo mục tiêu. Chẳng hạn một lãnh đạo phụ trách quản lý lao động có thể kiêm quản lý ở một vị trí khu công nghiệp để cùng chung tay giải quyết "bài toán" nhà ở cho thuê cho công nhân, người lao động trong các khu sản xuất.
Việc này trong trong doanh nghiệp tư rất đỗi bình thường vì mọi nhiệm vụ đều có mục tiêu và thời hạn, không ai là "công chức trọn đời" ở một vị trí cả.
Và một điểm nữa, bắt buộc đội ngũ tham mưu phải ứng dụng công nghệ, mà "sát sườn nhất" là sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI). AI giúp không phải "chế tạo lại bánh xe". Thay vì ngồi tra cứu từng quy định, AI sẽ làm việc đó trong chốc lát. Nhiệm vụ của con người là đặt câu hỏi đúng, hiệu đính kết quả và sáng tạo ra những giải pháp phù hợp trong bối cảnh, hoàn cảnh của đô thị.

* 50 năm nữa, khi thế hệ sau nhìn lại giai đoạn này, giống như cuộc trò chuyện của chúng ta ngày hôm nay, ông muốn họ nhớ điều gì nhất?
- Tôi nghĩ là TP.HCM muốn thế hệ sau thấy rằng 50 năm trước (ngày hôm nay) thành phố đã nỗ lực hết mình trên một nền tảng sâu dày của tiền nhân. Những gì chúng ta đang làm hôm nay, từ việc khởi công các dự án metro, đường vành đai, đến việc lập quy hoạch TP.HCM tầm nhìn 100 năm, thiết kế Luật Đô thị đặc biệt… chính là đang tạo ra lớp tâm thế mới, không gian mới chuẩn bị cho 50 năm kế tiếp. Đó là một thành phố không chỉ mạnh về kinh tế, mà còn dẫn dắt về thể chế, hạ tầng đa tầng và một đội ngũ con người đầy khát vọng sáng tạo.
Không chỉ thụ hưởng di sản, chúng ta có trách nhiệm kiến tạo một di sản mới để 50 năm sau, một thế hệ khác có thể tự hào nhắc lại câu chuyện của ngày hôm nay.
Xin cảm ơn ông!






