"Việt Nam là một trong những quốc gia rất hứng khởi với AI, có lượng truy cập vào các nền tảng AI tạo sinh như ChatGPT thuộc nhóm cao trên thế giới. Thế nhưng, mức độ sẵn sàng cho AI vẫn nằm trong nhóm thấp" , bà Trần Thị Lan Hương, chuyên gia số cao cấp của Ngân hàng Thế giới (World Bank), phát biểu tại Diễn đàn Cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - châu Á 2026 , ngày 28/5.
Đây là "nghịch lý của sự sẵn sàng" mà Việt Nam đang đối mặt trên con đường hướng tới nền kinh tế vận hành bằng công nghệ và AI.
Bà Trần Thị Lan Hương, chuyên gia số cao cấp của Ngân hàng Thế giới.
Bà Trần Thị Lan Hương cho biết trong hai đến ba năm gần đây, AI và chuyển đổi số xuất hiện dày đặc trong các chiến lược, nghị quyết và chính sách phát triển của Việt Nam.
Nước ta cũng là một trong những quốc gia sớm xây dựng chiến lược AI, đồng thời xác định công nghệ và AI sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, AI hiện vẫn "chưa ăn sâu bén rễ" vào nền kinh tế trong nước.
Bà Hương cho biết để đánh giá mức độ sẵn sàng AI của một quốc gia, World Bank sử dụng mô hình "4C + R", gồm kết nối (Connectivity), năng lực điện toán (Computing), dữ liệu và bối cảnh triển khai (Context), năng lực con người (Competency) và AI có trách nhiệm (Responsible AI).
Ở yếu tố đầu tiên là kết nối, chuyên gia World Bank đánh giá Việt Nam là điểm sáng về tốc độ và khả năng tiếp cận Internet. Tuy nhiên, hạ tầng số vẫn tồn tại nhiều điểm dễ tổn thương.
"Tất cả các tuyến cáp quang biển của Việt Nam hiện đều đi từ miền Trung trở xuống phía Nam. Chưa có tuyến cáp quang biển nào kết nối trực tiếp lên phía Bắc" , bà Hương nói.
Ngoài ra, chỉ khoảng 2% hệ thống cáp quang của Việt Nam được đặt ngầm dưới đất, trong khi 98% vẫn đi nổi trên mặt đất, làm gia tăng rủi ro gián đoạn trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia chịu tác động lớn của thiên tai và biến đổi khí hậu.
Một vấn đề khác là năng lực điện toán phục vụ AI còn hạn chế.
Theo khảo sát do World Bank phối hợp với Bộ KH&CN thực hiện năm 2025 với hơn 1.000 cán bộ công chức, hơn 200 trường đại học, viện nghiên cứu và hơn 50 doanh nghiệp, hai khó khăn lớn nhất khi triển khai AI là thiếu phòng thí nghiệm AI và thiếu khả năng tiếp cận các hệ thống tính toán hiệu năng cao.
Ở yếu tố dữ liệu, bà Hương cho biết dữ liệu tại Việt Nam hiện bị phân mảnh, khó tiếp cận và chưa sẵn sàng cho AI.
"Tiếp cận dữ liệu thông thường đã khó, nhưng dữ liệu cho AI còn khó hơn vì phải bảo đảm chuẩn hóa, đủ chất lượng và máy có thể đọc được" , bà Hương nói.
Việt Nam có lượng truy cập vào các nền tảng AI tạo sinh thuộc nhóm cao trên thế giới. (Ảnh minh họa)
Về vấn đề năng lực con người, theo khảo sát của World Bank, khoảng 25% cán bộ công chức tham gia khảo sát cho biết không có kỹ năng AI, trong khi chỉ khoảng 12% tự đánh giá có kỹ năng AI ở mức cao.
Bà Hương cho rằng Việt Nam không chỉ thiếu chuyên gia AI nói chung mà còn thiếu nhân lực AI trong các lĩnh vực chuyên biệt như y tế, giáo dục, giao thông hay y sinh.
"AI không chỉ là câu chuyện của kỹ sư công nghệ, mà sẽ đi vào tất cả lĩnh vực của nền kinh tế" , bà nói.
Yếu tố cuối cùng liên quan đến sử dụng AI thế nào cho trách nhiệm, hiệu quả. Chuyên gia World Bank nhấn mạnh là AI đang được sử dụng rộng rãi nhưng hành lang quản trị vẫn chưa hoàn thiện.
Theo bà Hương, nhiều cán bộ công chức hiện sử dụng các nền tảng như ChatGPT, DeepSeek hoặc Claude dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chưa rõ đâu là dữ liệu được phép đưa lên các nền tảng AI, đâu là thông tin cần bảo mật.
"Việc xây dựng cơ chế sử dụng AI an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm là rất quan trọng, đặc biệt với các dữ liệu liên quan đến Chính phủ và người dân" , bà Hương nhấn mạnh.
Chuyên gia World Bank lưu ý rằng các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia hay Ấn Độ đều không chờ AI "chín muồi" mới hành động, mà đầu tư từ sớm vào hạ tầng kết nối, dữ liệu, năng lực điện toán và nhân lực.
"Các quốc gia sẽ định hình nền kinh tế AI là những quốc gia đang hình thành các nền móng từ hôm nay" , bà Hương nói.





